Mức đầu tư vào TPCP của hệ thống NHTM cho đến nay cũng mới chỉ chiếm bình quân khoảng 6 - 7% tổng tài sản.
Ông Đỗ Ngọc Quỳnh, Tổng thư ký Hiệp hội thị trường trái phiếu Việt Nam trả lời phỏng vấn phóng viên Thời báo Ngân hàng. Thưa ông, phát hành trái phiếu chính phủ (TPCP) đang tăng kỷ lục, gây sức ép lớn lên nợ công. Ở cương vị của mình, ông nhận định thế nào về vấn đề này? Về logic thì việc tăng phát hành trái phiếu đúng là gây sức ép lên nợ công vì tăng phát hành trái phiếu sẽ đồng nghĩa với việc tăng mức vay nợ nếu như khối lượng phát hành lớn hơn nhiều khối lượng nợ đến hạn. Tuy nhiên, việc gây sức ép lên nợ công ở mức độ hiện nay có tác động thế nào đến nền kinh tế và xã hội? Tôi cho rằng trước khi đưa ra một nhận định, đánh giá thì phải nhìn tổng thể và đặt nó trong bối cảnh, hoàn cảnh thị trường, thực trạng nền kinh tế cụ thể. Theo quan điểm của cá nhân tôi thì việc tăng phát hành trái phiếu trong 3 năm trở lại đây chưa đáng phải quá lo ngại trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam vì một số lý do sau: Về lý thuyết và cả thực tế, để tạo ra tăng trưởng GDP, mỗi nền kinh tế đều cần có các nguồn đầu tư khác nhau nhưng chủ yếu là 2 nguồn: đầu tư Nhà nước, đầu tư tư nhân. Mỗi kênh đầu tư này có vai trò, mục tiêu rất khác nhau, nhưng trong bất cứ giai đoạn phát triển nào của nền kinh tế cũng có vai trò của đầu tư Nhà nước và tư nhân. Riêng về đầu tư tư nhân, họ thường đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu và rất nhạy cảm với rủi ro. Mục tiêu đầu tư của Chính phủ đương nhiên cũng phải hướng tới hiệu quả, nhưng không chỉ đo bằng lợi nhuận mà còn hướng tới vai trò rất quan trọng là điều tiết và tạo sự ổn định của nền kinh tế, thị trường và xã hội. Khi đầu tư tư nhân co lại, để giữ ổn định và tạo tiền đề phát triển trở lại thì đầu tư, chi tiêu của Nhà nước tất yếu sẽ phải chịu sức ép tăng lên. Tuy nhiên, việc huy động vốn và sử dụng vốn là 2 khâu có mối liên hệ chặt chẽ, hữu cơ để đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế nói chung và của mỗi kênh huy động và đầu tư nói riêng. Mặc dù vậy, muốn đầu tư thì trước hết phải có vốn. Do đó, việc xây dựng các kênh huy động, phương thức huy động, hình thức huy động và sản phẩm huy động vốn phù hợp, hiệu quả trong nền kinh tế phục vụ cả đầu tư tư nhân và đầu tư Nhà nước đều hết sức quan trọng và cần có quá trình tích tụ để phát triển. Chúng ta cần một mặt bảo vệ thành quả và tiếp tục hoàn thiện để phát triển hiệu quả hơn nữa kênh huy động vốn này, nhưng mặt khác cũng phải làm sao nâng cao năng lực hấp thụ và sử dụng vốn đầu tư hiệu quả và tạo môi trường thuận lợi từng bước kích thích để đầu tư tư nhân quay trở lại. Hiện đã có Luật Đầu tư công (sẽ có hiệu lực từ 1/1/2015), Luật Quản lý nợ công, cải tiến cơ chế giám sát đầu tư công… Lúc này chúng ta cần những ý kiến xây dựng có trí tuệ để thúc đẩy nhanh hơn, hiệu quả hơn quá trình tái cấu trúc này.
Dư luận cũng cho rằng, bất cập lớn hiện nay là tăng trưởng tín dụng thấp, ngân hàng đang tập trung quá nhiều vốn vào TPCP. Quan điểm của ông về vấn đề này? Hiện tượng vốn NHTM “đi vòng” qua TPCP thời gian vừa qua theo tôi có thể được giải thích vì một số nguyên nhân chính như sau: Thứ nhất, đây là hệ quả tất yếu của việc thực thi các chính sách tái cơ cấu nền kinh tế, đặc biệt là các chính sách tái cơ cấu thị trường tài chính, hệ thống ngân hàng. Với xuất phát điểm là nền kinh tế chủ yếu dựa vào hệ thống NHTM nên trong một thời gian dài hệ thống NHTM của chúng ta phát triển chủ yếu về bề rộng, hoạt động bộc lộ nhiều bất cập như chất lượng hoạt động yếu kém, chủ yếu tập trung vào tín dụng với thu nhập từ tín dụng chiếm 70 - 80%, nợ xấu cao, dịch vụ ngân hàng phi tín dụng kém phát triển, khả năng thanh khoản yếu và thường xuyên có các cuộc khủng hoảng về thanh khoản tạo ra các biến động lãi suất ở mức cao… Hệ thống ngân hàng đã có thời gian dài tăng trưởng tín dụng cao, có khi lên đến 30%, thậm chí 50%/năm nhưng tăng trưởng GDP của chúng ta trong giai đoạn đó chỉ quanh mức 6% -7%. Trong khi kể cả các nước được gọi là Rồng, là Hổ khu vực châu Á trong giai đoạn phát triển vàng với tăng trưởng GDP gần 10% thì tốc độ tăng trưởng tín dụng của họ tối đa cũng chỉ khoảng 16%. Chính vì vậy Chính phủ, NHNN đã có những chỉ đạo quyết liệt trong tái cơ cấu thị trường tài chính và hệ thống TCTD. Theo đó, một mặt Chính phủ thực hiện các chính sách, biện pháp thúc đẩy sự phát triển của thị trường cổ phiếu và đặc biệt là thị trường trái phiếu, mặt khác Chính phủ và NHNN đã ban hành nhiều chính sách nhằm triển khai Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 - 2015; kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng; yêu cầu các NHTM điều chỉnh cơ cấu tín dụng hướng đến các hoạt động sản xuất, tăng vốn và đặc biệt là nâng cao các chuẩn mực về an toàn hoạt động đối với các NHTM theo Basel… Để đáp ứng các yêu cầu, chuẩn mực mới, các NHTM đã buộc phải tái cơ cấu các mặt hoạt động, tái cơ cấu bảng tổng kết tài sản và tái cơ cấu vốn. Theo đó, các NHTM phải thích ứng, đa dạng hóa các loại tài sản có sinh lời. Trong bối cảnh như vậy, việc các NHTM đầu tư vào TPCP trong thời gian qua là hoàn toàn bình thường. Vì mức đầu tư vào TPCP trước đây của hệ thống NHTM cho đến nay cũng mới chỉ chiếm bình quân khoảng 6 - 7% tổng tài sản của các NHTM và đầu tư vào TPCP vừa giúp đa dạng hóa tài sản có sinh lời, vừa nâng cao được khả năng thanh khoản. Thứ hai, trong bối cảnh kinh tế phát triển, thị trường ổn định và có nhiều thuận lợi kinh doanh thì các nhà đầu tư (NĐT) thường có xu hướng gia tăng khẩu vị rủi ro. Nhưng ngược lại, khi kinh tế khủng hoảng, thị trường có nhiều biến động, thì các NĐT thường có xu hướng giảm mức chấp nhận rủi ro và tìm đến các kênh đầu tư, tài sản đầu tư an toàn, có độ rủi ro thấp hơn. Mà kênh đầu tư có độ rủi ro thấp nhất chính là TPCP. Do đó sự dịch chuyển vốn vừa qua của các TCTD vào TPCP cũng là chuyện bình thường, phản ánh đúng cả về hoàn cảnh thực tế lẫn logic phản ứng của các NĐT trong điều kiện nền kinh tế rơi vào giai đoạn khó khăn và rủi ro tăng cao. Với những lý do nêu trên, tôi cho rằng việc đầu tư vào TPCP trong thời gian qua của các NHTM mặc dù có sự tăng trưởng đột biến nhưng không phải là nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng chậm của nền kinh tế. Vấn đề lớn nhất cản trở sự tăng trưởng hiệu quả của nền kinh tế trong bối cảnh chúng ta đang tái cấu trúc tập trung vào chất lượng tăng trưởng bây giờ chính là khả năng hấp thụ vốn, khả năng sử dụng vốn hiệu quả của cả Nhà nước và tư nhân. Điều này lại phụ thuộc vào các vấn đề sâu xa hơn là chất lượng giáo dục, nền tảng khoa học, công nghệ, năng lực quản lý... Nhưng với tốc độ mua như hiện nay thì TCTD đang nắm giữ quá nhiều TPCP? Trước hết phải xem xét nhiều là so sánh với cái gì? So với chính chúng ta trước đây, so với quy định của cơ quan quản lý, so với chuẩn mực quốc tế… Nếu so với chính chúng ta trước đây thì như tôi nói ở trên, do xuất phát điểm thấp và sức ép của quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng với các chuẩn mực an toàn cao hơn về chất lượng tài sản, thanh khoản và vốn thì đúng là tốc độ, quy mô đầu tư và mức độ nắm giữ TPCP của các NHTM đã tăng rất nhanh. Mặc dù vậy, đến cuối năm 2013 tổng giá trị TPCP được các NHTM nắm giữ trên tổng tài sản của toàn hệ thống NHTM cũng mới chỉ bình quân ở mức quanh 6% và đến hết tháng 6/2014 chắc cũng chỉ lên khoảng quanh 7%. Với việc hướng tới chuẩn mực cho vay theo Basel với tỷ lệ cho vay trên huy động ở mức dưới hoặc bằng 80% và tỷ lệ vốn dự trữ thanh khoản thứ cấp sẽ là trên dưới 20% huy động, thì theo tôi tỷ lệ đầu tư vào TPCP như vậy chưa phải là lớn. Còn nếu so về quy mô tổng thể của thị trường thì như tôi nói ở trên, quy mô thị trường TPCP Việt Nam trên GDP mới chỉ ở mức dưới 17% thì còn rất thấp so với các nước có thị trường phát triển cao hơn trong khu vực như Thái Lan, Malaysia… và đặc biệt là so với các nước phát triển ở châu Âu và Mỹ. Với một xuất phát điểm thấp và mức phát triển hiện nay thì dư địa để phát triển thị trường trái phiếu của Việt Nam còn rất lớn. Chúng ta đang thấy sự dịch chuyển tốt từ chủ trương, chính sách của Nhà nước đến hướng đi của thị trường. Tuy nhiên, quy mô và mức độ phát triển cụ thể như thế nào là phù hợp và hiệu quả với đặc thù của nền kinh tế chúng ta thì cần tiếp tục được theo dõi, thử nghiệm, đánh giá từ các dữ liệu phân tích thường xuyên của cơ quan quản lý và các thành viên thị trường nói chung cũng như các NHTM nói riêng. Xin cảm ơn ông! Nhóm PV Chuyên đề Ngân hàng thực hiện |
0 nhận xét:
Đăng nhận xét